Thứ Tư, 31 tháng 12, 2008
Thứ Hai, 29 tháng 12, 2008
Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2008
Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2008
Thứ Ba, 23 tháng 12, 2008
Để điện thoại di động ở đâu gây hại nhất?
Điện thoại di động giờ đã là vật bất ly thân với nhiều người, nhưng điện thoại lại ảnh hưởng đến sức khỏe rất nghiêm trọng và bạn có biết điện thoại di động để đâu hại sức khỏe nhất?
Theo sự phát triển của kỹ thuật viễn thông không dây, người sử dụng điện thoại di động cũng ngày càng nhiều và những vấn đề mà điện thoại mang lại cũng là điều khiến nhiều người phải quan tâm. Vậy rốt cuộc, bức xạ của điện thoại có hại đến con người thế nào? Và mức độ gây hại nhiều hay ít?
Khi sử dụng điện thoại di động, điện thoại sẽ được truyền và bắt sóng, sóng này chính là bức xạ điện thoại.
Thông thường, khi điện thoại ở chế độ chờ thì bức xạ tương đối nhỏ, khi nói chuyện điện thoại thì nhiều hơn và khi bấm điện thoại và chờ đối phương nghe máy là lúc bức xạ nhiều nhất, lượng bức xạ gấp 3 lần so với chế độ chờ. Bức xạ này có thể làm thay đổi tổ chức bên trong con người, rất có hại cho sức khỏe. Ngoài điện thoại di động thì máy tính cũng là một trong những nguồn bức xạ chủ yếu.
Không được đặt bên gối
Bức xạ điện thoại có ảnh hưởng rất lớn đối với não bộ, nó khiến cho hệ thống thần kinh gặp trở ngại, dẫn đến đau đầu, hôn mê, mất ngủ, đa mộng và rụng tóc, có người còn có cảm giác bực bội dễ phát cáu. Tại Mỹ và Nhật Bản, bệnh án của nhiều người bị u não được chẩn đoán là do nhiễm bức xạ điện thoại di động mà gây ra. Do đó khi nghe điện thoại tốt nhất bạn nên để xa một chút khi bấm nút nghe rồi sau đó mới đưa lên tai nghe. Hạn chế chuyện bằng điện thoại di động, trước khi ngủ chú ý không để điện thoại bên cạnh gối.
Không đeo trước ngực
Rất nhiều bạn nữ thích đeo điện thoại trước ngực, nhưng các nhà nghiên cứu cho biết, đeo điện thoại trước ngực sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, nhất là về tim mạch. Tuy là bức xạ khi điện thoại để ở chế độ chờ không nhiều lắm, nhưng bức xạ sóng điện từ xung quanh điện thoại vẫn gây hại cho sức khỏe. Đặc biệt những người mắc bệnh tim mạch nên chú ý không đeo điện thoại trước ngực.
Các chuyên gia cho rằng, bức xạ điện từ còn ảnh hưởng đến chức năng tiết dịch, dẫn đến kinh nguyệt không đều.
Không để trong túi quần
Những chàng trai thường xuyên sử dụng điện thoại và để điện thoại trong túi quần có thể làm lượng tinh trùng giảm 30%. Các chuyên gia y học cho biết, thường xuyên để điện thoại cạnh eo, bụng, thì sóng điện từ sẽ làm ảnh hưởng đến tinh trùng và trứng trong cơ thể nam và nữ, kể cả sóng tin nhắn. Nó sẽ làm ảnh hưởng đến chức năng sinh dục của con người.
Theo kiểm nghiệm trên chuột, những con chuột tiếp xúc với sóng điện từ điện thoại trong 5 phút đã phát sinh sự biến đổi DNA. Trứng, tinh trùng chịu ảnh hưởng của bức xạ điện từ lâu có thể sẽ làm nảy sinh sự biến đổi DNA.
Các chuyên gia khuyến cáo, những người sử dụng điện thoại nên để cách ly điện thoại khỏi vùng eo, bụng, ngực. Không nên đeo điện thoại ở vùng thắt lưng hoặc để trong túi. Khi làm việc hoặc ở trong phòng, hãy để điện thoại lên bàn, nơi có thể thuận tiện nghe điện thoại mà lại không gây ảnh hưởng đến sức khỏe.
Theo QQ
Theo sự phát triển của kỹ thuật viễn thông không dây, người sử dụng điện thoại di động cũng ngày càng nhiều và những vấn đề mà điện thoại mang lại cũng là điều khiến nhiều người phải quan tâm. Vậy rốt cuộc, bức xạ của điện thoại có hại đến con người thế nào? Và mức độ gây hại nhiều hay ít?
Khi sử dụng điện thoại di động, điện thoại sẽ được truyền và bắt sóng, sóng này chính là bức xạ điện thoại.
Thông thường, khi điện thoại ở chế độ chờ thì bức xạ tương đối nhỏ, khi nói chuyện điện thoại thì nhiều hơn và khi bấm điện thoại và chờ đối phương nghe máy là lúc bức xạ nhiều nhất, lượng bức xạ gấp 3 lần so với chế độ chờ. Bức xạ này có thể làm thay đổi tổ chức bên trong con người, rất có hại cho sức khỏe. Ngoài điện thoại di động thì máy tính cũng là một trong những nguồn bức xạ chủ yếu.
Không được đặt bên gối
Bức xạ điện thoại có ảnh hưởng rất lớn đối với não bộ, nó khiến cho hệ thống thần kinh gặp trở ngại, dẫn đến đau đầu, hôn mê, mất ngủ, đa mộng và rụng tóc, có người còn có cảm giác bực bội dễ phát cáu. Tại Mỹ và Nhật Bản, bệnh án của nhiều người bị u não được chẩn đoán là do nhiễm bức xạ điện thoại di động mà gây ra. Do đó khi nghe điện thoại tốt nhất bạn nên để xa một chút khi bấm nút nghe rồi sau đó mới đưa lên tai nghe. Hạn chế chuyện bằng điện thoại di động, trước khi ngủ chú ý không để điện thoại bên cạnh gối.
Không đeo trước ngực
Rất nhiều bạn nữ thích đeo điện thoại trước ngực, nhưng các nhà nghiên cứu cho biết, đeo điện thoại trước ngực sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, nhất là về tim mạch. Tuy là bức xạ khi điện thoại để ở chế độ chờ không nhiều lắm, nhưng bức xạ sóng điện từ xung quanh điện thoại vẫn gây hại cho sức khỏe. Đặc biệt những người mắc bệnh tim mạch nên chú ý không đeo điện thoại trước ngực.
Các chuyên gia cho rằng, bức xạ điện từ còn ảnh hưởng đến chức năng tiết dịch, dẫn đến kinh nguyệt không đều.
Không để trong túi quần
Những chàng trai thường xuyên sử dụng điện thoại và để điện thoại trong túi quần có thể làm lượng tinh trùng giảm 30%. Các chuyên gia y học cho biết, thường xuyên để điện thoại cạnh eo, bụng, thì sóng điện từ sẽ làm ảnh hưởng đến tinh trùng và trứng trong cơ thể nam và nữ, kể cả sóng tin nhắn. Nó sẽ làm ảnh hưởng đến chức năng sinh dục của con người.
Theo kiểm nghiệm trên chuột, những con chuột tiếp xúc với sóng điện từ điện thoại trong 5 phút đã phát sinh sự biến đổi DNA. Trứng, tinh trùng chịu ảnh hưởng của bức xạ điện từ lâu có thể sẽ làm nảy sinh sự biến đổi DNA.
Các chuyên gia khuyến cáo, những người sử dụng điện thoại nên để cách ly điện thoại khỏi vùng eo, bụng, ngực. Không nên đeo điện thoại ở vùng thắt lưng hoặc để trong túi. Khi làm việc hoặc ở trong phòng, hãy để điện thoại lên bàn, nơi có thể thuận tiện nghe điện thoại mà lại không gây ảnh hưởng đến sức khỏe.
Theo QQ
Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2008
Lợi ích của nhai kỹ nuốt chậm
Các nhà y học Nhật Bản đã chứng minh bằng thực tiễn rằng: nhai kỹ trong 30 giây sẽ khiến các độc tố gây bệnh ung thư mất tác dụng gây bệnh.Cách thức thí nghiệm như sau: đưa vật chất gây bệnh ung thư có hại nhất vào trong ống nghiệm có đựng nước bọt, sau đó quan sát sự thay đổi của chúng, thoạt đầu không có phát hiện gì lạ, nhưng khi đem ống nghiệm lắc khoảng 30 giây, thì thấy 80% - 100% độc tố của vật chất gây bệnh ung thư đã biến mất.
Thí nghiệm trên cho ta biết rằng, nước bọt được tiết ra khi nhai có tác dụng trừ độc rất mạnh. Nhưng cần phải nhai kỹ thức ăn từ 30 giây trở lên thì mới đạt hiệu quả cao nhất.
Ngoài ra, nếu ăn như hổ đói, chẳng những thức ăn không được nghiền kỹ, mà còn không kịp xảy ra phản ứng, thay đổi về hoá học, sau khi nuốt xuống, dạ dày phải làm việc quá nặng, ảnh hưởng đến hấp thu chất dinh dưỡng.
Khi nhai nên tập trung nhai đều cả hai bên hàm, nếu chỉ quen nhai một bên sẽ khiến xương quai hàm một bên phát triển quá mức, một bên không phát triển sẽ teo đi, làm mất thẩm mỹ khuôn mặt.
Theo Bao Viet
Thứ Tư, 17 tháng 12, 2008
Thứ Ba, 16 tháng 12, 2008
7 thói quen gây hại cho gan và thận
Trong cuộc sống hàng ngày, có rất nhiều thói quen xấu gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới chức năng của gan và thận, là nguyên nhân gây nên các bệnh như: viêm thận, viêm gan, sỏi thận, ung thư gan… Dưới đây là 7 thói quen xấu thường gặp:
1. Ít uống nước
Đại đa số lỗi này thường thuộc về nam giới. Nam giới thường ít uống nước hơn phụ nữ, đặc biệt là nước lọc nên khả năng mắc các bệnh về thận là rất cao.
Các chất thải, chất độc trong cơ thể đều được “phân loại” và thải ra ngoài thông qua hoạt động của lá gan và thận. Dù chỉ chiếm 1% trọng lượng của cơ thể và bằng 1/4 trọng lượng của tim nhưng thận giữ vai trò vô cùng quan trọng trong hệ bài tiết của cơ thể. Ngoài ra, thận còn có chức năng điện giải và điều tiết độ cân bằng lượng nước trong cơ thể. Để duy trì chức năng này, cần cung cấp đủ nước cho thận.
Lời khuyên: Bạn đừng bao giờ quên bổ sung nước cho cơ thể ngay cả khi thời tiết lạnh. Nếu nước lọc không có “sức hấp dẫn” với bạn, hãy tìm đến các loại nước khác như: sữa, nước ép hoa qủa, các loại trà, nước canh…
2. Uống rượu bia
Trong rượu bia có chứa nhiều cồn và các chất kích thích. Các chất này khi đi vào cơ thể đòi hỏi thận của bạn phải làm việc hết “công suất” để xử lý và thải loại ra ngoài các độc tố.
Uống nhiều rượu bia còn gây tổn hại nghiêm trọng cho gan. Thực tế đã chứng minh tỉ lệ những người mắc bệnh về gan và thận do uống rượu bia cao gấp 4 - 5 lần so với những người bình thường khác.
Lời khuyên: Nên tăng cường uống nước lọc, sữa và các loại nước ép hoa quả. Hạn chế việc uống rượu bia và các đồ uống có chứa chất kích thích khác.
3. Ăn nhiều thịt
Hiện nay lượng chất béo động vật đưa vào cơ thể mỗi người trung bình là 0,8mg/ngày, gấp đôi hàm lượng chất béo cho phép. Chất béo có nguồn gốc động vật thường chứa các chất khó tiêu hoá. Vì vậy, khả năng phân giải của gan và thận đối với các chất này kém hơn rất nhiều so với các chất béo có nguồn gốc động vật.
Lời khuyên: Nên hạn chế ăn thịt. Ăn nhiều rau xanh và hoa quả.
4. Dùng nhiều thuốc giảm đau
Dùng thuốc giảm đau trong thời gian dài có thể làm tốc độ lưu thông máu trong cơ thể chậm lại. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của gan và thận, đôi khi còn có thể dẫn tới hiện tượng suy gan và suy thận.
Đối với những người có tiền sử mắc phải các bệnh về gan và thận cần đặc biệt chú ý tới việc sử dụng các loại thuốc giảm đau vì sẽ dễ dẫn tới tình trạng bệnh ngày càng trở nên trầm trọng.
Lời khuyên: Hãy tìm tới lời khuyên của bác sỹ khi bạn cần dùng tới thuốc giảm đau.
5. Ăn nhiều muối
Lượng muối đưa vào cơ thể ở mức vừa phải sẽ không là “thách thức” với gan và thận. Tuy nhiên, đối với những người có thói quen ăn mặn thì hoạt động của gan, đặc biệt là thận, cần hết sức “dè chừng”.
95% lượng muối đưa vào cơ thể đều qua gan và thận “xử lý”. Lượng muối quá nhiều sẽ gây trở ngại cho quá trình đào thải các chất cặn bã dư thừa ra khỏi cơ thể, lâu ngày sẽ làm giảm khả năng hoạt động của gan và thận.
Lời khuyên: Lượng muối thích hợp cho người lớn là từ 10 - 15gram/ngày và của trẻ nhỏ là 3 - 5gram/ngày.
6. Ăn nhiều đồ ăn chế biến sẵn
Hàm lượng chất bảo quản thực phẩm có trong các đồ ăn sẵn là rất lớn, nhất là trong đồ hộp. Nếu ăn thường xuyên, các chất bảo quản tích tụ trong cơ thể ngày càng nhiều. Khi đó khả năng đào thải độc tố có trong các chất này của gan và thận sẽ trở thành “vô hiệu hoá”.
Lời khuyên: Nên chọn thực phẩm tươi sống cho bữa ăn hàng ngày
7. Căng thẳng, mệt mỏi
Dan gian thường nói “trăm bệnh đều bắt đầu từ bệnh tinh thần”. Những căng thẳng mệt mỏi trong đời sống hàng ngày cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có gan và thận. Khi cơ thể trong trạng thái căng thẳng, mất ngủ, mệt mỏi, áp lực máu tăng cao, lượng máu lưu thông qua gan và thận cũng giảm mạnh, không đủ để duy trì hoạt động bình thường.
Lời khuyên: Cố gắng tránh những căng thẳng, mệt mỏi trong đời sống hàng ngày. Luôn giữ tinh thần thoải mái, lạc quan.
Theo 247
1. Ít uống nước
Đại đa số lỗi này thường thuộc về nam giới. Nam giới thường ít uống nước hơn phụ nữ, đặc biệt là nước lọc nên khả năng mắc các bệnh về thận là rất cao.
Các chất thải, chất độc trong cơ thể đều được “phân loại” và thải ra ngoài thông qua hoạt động của lá gan và thận. Dù chỉ chiếm 1% trọng lượng của cơ thể và bằng 1/4 trọng lượng của tim nhưng thận giữ vai trò vô cùng quan trọng trong hệ bài tiết của cơ thể. Ngoài ra, thận còn có chức năng điện giải và điều tiết độ cân bằng lượng nước trong cơ thể. Để duy trì chức năng này, cần cung cấp đủ nước cho thận.
Lời khuyên: Bạn đừng bao giờ quên bổ sung nước cho cơ thể ngay cả khi thời tiết lạnh. Nếu nước lọc không có “sức hấp dẫn” với bạn, hãy tìm đến các loại nước khác như: sữa, nước ép hoa qủa, các loại trà, nước canh…
2. Uống rượu bia
Trong rượu bia có chứa nhiều cồn và các chất kích thích. Các chất này khi đi vào cơ thể đòi hỏi thận của bạn phải làm việc hết “công suất” để xử lý và thải loại ra ngoài các độc tố.
Uống nhiều rượu bia còn gây tổn hại nghiêm trọng cho gan. Thực tế đã chứng minh tỉ lệ những người mắc bệnh về gan và thận do uống rượu bia cao gấp 4 - 5 lần so với những người bình thường khác.
Lời khuyên: Nên tăng cường uống nước lọc, sữa và các loại nước ép hoa quả. Hạn chế việc uống rượu bia và các đồ uống có chứa chất kích thích khác.
3. Ăn nhiều thịt
Hiện nay lượng chất béo động vật đưa vào cơ thể mỗi người trung bình là 0,8mg/ngày, gấp đôi hàm lượng chất béo cho phép. Chất béo có nguồn gốc động vật thường chứa các chất khó tiêu hoá. Vì vậy, khả năng phân giải của gan và thận đối với các chất này kém hơn rất nhiều so với các chất béo có nguồn gốc động vật.
Lời khuyên: Nên hạn chế ăn thịt. Ăn nhiều rau xanh và hoa quả.
4. Dùng nhiều thuốc giảm đau
Dùng thuốc giảm đau trong thời gian dài có thể làm tốc độ lưu thông máu trong cơ thể chậm lại. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của gan và thận, đôi khi còn có thể dẫn tới hiện tượng suy gan và suy thận.
Đối với những người có tiền sử mắc phải các bệnh về gan và thận cần đặc biệt chú ý tới việc sử dụng các loại thuốc giảm đau vì sẽ dễ dẫn tới tình trạng bệnh ngày càng trở nên trầm trọng.
Lời khuyên: Hãy tìm tới lời khuyên của bác sỹ khi bạn cần dùng tới thuốc giảm đau.
5. Ăn nhiều muối
Lượng muối đưa vào cơ thể ở mức vừa phải sẽ không là “thách thức” với gan và thận. Tuy nhiên, đối với những người có thói quen ăn mặn thì hoạt động của gan, đặc biệt là thận, cần hết sức “dè chừng”.
95% lượng muối đưa vào cơ thể đều qua gan và thận “xử lý”. Lượng muối quá nhiều sẽ gây trở ngại cho quá trình đào thải các chất cặn bã dư thừa ra khỏi cơ thể, lâu ngày sẽ làm giảm khả năng hoạt động của gan và thận.
Lời khuyên: Lượng muối thích hợp cho người lớn là từ 10 - 15gram/ngày và của trẻ nhỏ là 3 - 5gram/ngày.
6. Ăn nhiều đồ ăn chế biến sẵn
Hàm lượng chất bảo quản thực phẩm có trong các đồ ăn sẵn là rất lớn, nhất là trong đồ hộp. Nếu ăn thường xuyên, các chất bảo quản tích tụ trong cơ thể ngày càng nhiều. Khi đó khả năng đào thải độc tố có trong các chất này của gan và thận sẽ trở thành “vô hiệu hoá”.
Lời khuyên: Nên chọn thực phẩm tươi sống cho bữa ăn hàng ngày
7. Căng thẳng, mệt mỏi
Dan gian thường nói “trăm bệnh đều bắt đầu từ bệnh tinh thần”. Những căng thẳng mệt mỏi trong đời sống hàng ngày cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có gan và thận. Khi cơ thể trong trạng thái căng thẳng, mất ngủ, mệt mỏi, áp lực máu tăng cao, lượng máu lưu thông qua gan và thận cũng giảm mạnh, không đủ để duy trì hoạt động bình thường.
Lời khuyên: Cố gắng tránh những căng thẳng, mệt mỏi trong đời sống hàng ngày. Luôn giữ tinh thần thoải mái, lạc quan.
Theo 247
Từ táo bón đến bệnh trĩ
Nên ăn nhiều rau để giảm thiểu nguy cơ bị bệnh trĩ
Trong cuộc đời ai cũng có ít nhất vài ba lần bị táo bón. Đây chỉ là triệu chứng chứ không phải một bệnh. Táo bón nhẹ và ít thường không nguy hiểm, nhưng nếu kéo dài, nó có thể dẫn đến bệnh trĩ.
Táo bón khiến người bệnh phải rặn mạnh khi đại tiện, làm tăng áp lực trong bụng, cản trở sự lưu thông máu trong các tĩnh mạch ở vùng hậu môn. Nguyên nhân gây táo bón thường là ăn không đủ chất xơ, lười vận động, có thói quen nhịn đại tiện... Sự kiêng khem quá mức hoặc việc uống viên sắt khi mang thai cũng có thể gây táo bón. Nếu không được khắc phục, lâu ngày, các tĩnh mạch bị tổn thương nặng nề, gây nên trĩ.
Khi mắc bệnh trĩ, người bệnh thường có cảm giác ngứa ngáy, đau hậu môn, chảy máu tươi khi đại tiện. Bệnh trĩ được chia làm hai loại: trĩ nội (búi tĩnh mạch nằm trên cơ thắt hậu môn) và trĩ ngoại (búi trĩ tĩnh mạch ở dưới cơ thắt hậu môn và tụt ra ngoài, có thể nhìn thấy bằng mắt thường). Nếu để lâu ngày không điều trị, trĩ nội sẽ tụt xuống và sa ra ngoài, trở thành trĩ ngoại. Bệnh nhân sẽ rất khó chịu do búi trĩ sưng đau, rỉ máu và hay nhiễm trùng khi đi đại tiện.
Chính vì những đặc điểm này, người bị bệnh trĩ cần phải khám ngay từ đầu để có hướng điều trị sớm bằng nội khoa, giúp bảo vệ thành mạch, tăng sức bền của thành mạch, giảm phù nề, xung huyết ở các tĩnh mạch vùng hậu môn; giảm đau đớn cho người bệnh. Không nên để lâu dẫn đến nhiễm trùng, việc điều trị trở nên phức tạp.
Để phòng ngừa bệnh trĩ:, cần có chế độ ăn uống hợp lý, tránh táo bón lâu ngày. Nên ăn nhiều rau, hoa quả tươi, uống nhiều nước, vận động cơ thể thường xuyên để tăng ngu động ruột. Những người phải làm việc ở tư thế bất lợi (ngồi lâu, đứng nhiều) cần kết hợp nghỉ ngơi, giải lao và vận động hợp lý để ngăn chặn bệnh trĩ. Tập thói quen đi đại tiện ngày 1 lần vào giờ cố định.
Khi thấy hiện tượng táo bón kèm đại tiện ra máu, cần đi khám thầythuốc nội tiêu hóa để được hướng dẫn chữa trị sớm.
Những người đã bị trĩ cần chú ý vệ sinh để phòng viêm nhiễm, hằng ngày và sau mỗi lần đi đại tiện, phải rửa vùng hậu môn bằng nước muối ấm. Những người bị táo dễ bị nứt hậu môn gây nhiễm trùng nên cũng cần vệ sinh như trên.
BS Nguyễn Văn Thịnh, Sức Khoẻ & Đời Sống
Táo bón khiến người bệnh phải rặn mạnh khi đại tiện, làm tăng áp lực trong bụng, cản trở sự lưu thông máu trong các tĩnh mạch ở vùng hậu môn. Nguyên nhân gây táo bón thường là ăn không đủ chất xơ, lười vận động, có thói quen nhịn đại tiện... Sự kiêng khem quá mức hoặc việc uống viên sắt khi mang thai cũng có thể gây táo bón. Nếu không được khắc phục, lâu ngày, các tĩnh mạch bị tổn thương nặng nề, gây nên trĩ.
Khi mắc bệnh trĩ, người bệnh thường có cảm giác ngứa ngáy, đau hậu môn, chảy máu tươi khi đại tiện. Bệnh trĩ được chia làm hai loại: trĩ nội (búi tĩnh mạch nằm trên cơ thắt hậu môn) và trĩ ngoại (búi trĩ tĩnh mạch ở dưới cơ thắt hậu môn và tụt ra ngoài, có thể nhìn thấy bằng mắt thường). Nếu để lâu ngày không điều trị, trĩ nội sẽ tụt xuống và sa ra ngoài, trở thành trĩ ngoại. Bệnh nhân sẽ rất khó chịu do búi trĩ sưng đau, rỉ máu và hay nhiễm trùng khi đi đại tiện.
Chính vì những đặc điểm này, người bị bệnh trĩ cần phải khám ngay từ đầu để có hướng điều trị sớm bằng nội khoa, giúp bảo vệ thành mạch, tăng sức bền của thành mạch, giảm phù nề, xung huyết ở các tĩnh mạch vùng hậu môn; giảm đau đớn cho người bệnh. Không nên để lâu dẫn đến nhiễm trùng, việc điều trị trở nên phức tạp.
Để phòng ngừa bệnh trĩ:, cần có chế độ ăn uống hợp lý, tránh táo bón lâu ngày. Nên ăn nhiều rau, hoa quả tươi, uống nhiều nước, vận động cơ thể thường xuyên để tăng ngu động ruột. Những người phải làm việc ở tư thế bất lợi (ngồi lâu, đứng nhiều) cần kết hợp nghỉ ngơi, giải lao và vận động hợp lý để ngăn chặn bệnh trĩ. Tập thói quen đi đại tiện ngày 1 lần vào giờ cố định.
Khi thấy hiện tượng táo bón kèm đại tiện ra máu, cần đi khám thầythuốc nội tiêu hóa để được hướng dẫn chữa trị sớm.
Những người đã bị trĩ cần chú ý vệ sinh để phòng viêm nhiễm, hằng ngày và sau mỗi lần đi đại tiện, phải rửa vùng hậu môn bằng nước muối ấm. Những người bị táo dễ bị nứt hậu môn gây nhiễm trùng nên cũng cần vệ sinh như trên.
BS Nguyễn Văn Thịnh, Sức Khoẻ & Đời Sống
Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2008
Thuốc nam chữa bệnh táo bón
Táo bón là một chứng bệnh thường gặp. Y học cổ truyền cho rằng táo bón phần nhiều do nhiệt chứng, tà nhiệt xâm nhập vào kinh dương minh phủ thực hoặc do khí hư, huyết hư, tân dịch suy kém gây ra. Táo bón làm trở ngại việc tống các chất cặn bã gây ra bí trướng, đau đớn làm người bệnh khó chịu. Chữa trị táo bón ngoài việc điều chỉnh một chế độ ăn uống hợp lý, tăng khẩu phần rau xanh và các chất xơ để tăng nhu nhuận, có thể dùng thuốc hoạt tràng, thông tiện. Có rất nhiều vị thuốc chữa táo bón. Xin giới thiệu một số vị thuốc nam thông dụng mà hiệu quả.
Vừng đen: Tên thuốc gọi là hắc chi ma, là một thực phẩm khá quen thuộc, chứa nhiều chất dầu, protein, các chất cholin, phytin, methionin... Hạt vừng vị ngọt, tính bình vào 4 kinh phế, vị, can, thận. Dùng chữa các chứng can thận suy yếu, ù tai, váng đầu, hoa mắt, chóng mặt, đại tiện bí táo, râu tóc bạc sớm. Trường hợp táo bón, dùng vừng đen 40-50g sao qua trộn với 30g mật ong ăn vài lần trong ngày. Có thể dùng vài ngày.
Thầu dầu: Dùng dầu của hạt cây thầu dầu, tên thuốc là tỳ ma du. Thuốc có vị ngọt cay, tính bình, quy vào hai kinh vị và đại tràng. Tác dụng nhuận hạ, tích trệ, tiêu sưng. Dùng dầu thầu dầu làm trơn nhuận, phù hợp với người già bị bệnh táo bón. Dùng ngày 2 lần, mỗi lần 5ml.
Quả mướp: Quả tươi chứa các chất cholin, phytin, các acid amin tự do. Tác dụng làm lưu thông máu, thông sữa, làm dịu, chữa táo bón, đau nhức gân xương. Dùng mướp nấu ăn hoặc sắc cô đặc lấy nước uống có tác dụng làm hoạt tràng, thông tiện.
Bồ kết: Dùng quả già, chín đem phơi hoặc sấy khô. Thuốc có vị cay, mặn, tính ấm hơi độc, quy vào hai kinh phế, đại trường. Bồ kết chứa chất saponin, một số flavonoid và hợp chất triterpen. Có tác dụng trừ đờm, khai khiếu, chữa táo bón, làm thông sữa. Dùng bồ kết quả to, sao tồn tính, tán thành bột mịn, uống ngày 1 lần 2g với nước cơm để chữa táo bón.
Đào nhân: Vị thuốc là nhân của hạt đào trong có chứa phần lớn các chất dầu, ngoài ra có amygdalin, men elmusin, một ít tinh dầu. Đào nhân vị đắng, ngọt, tính bình, quy vào hai kinh tâm, can. Có tác dụng hoạt huyết, trừ ứ, nhuận tràng. Liều dùng 4-8g sắc uống. Có thể dùng hoa đào 5-8g có cùng tác dụng.
Lô hội: là nhựa đã chế biến khô của cây lô hội còn gọi là cây lưỡi hổ. Thuốc có vị đắng, tính hàn, quy vào hai kinh tâm, can. Có tác dụng thanh nhiệt, giáng hỏa, thanh can, hoạt tràng, thông tiện. Dùng chữa các chứng táo bón, ruột dạ dày, can đởm thực nhiệt. Có thể dùng 6g lô hội nghiền nát, trộn với đường rồi ngậm và nuốt dần hoặc dùng lô hội 20g, chu sa 15g, tán nhỏ hòa với rượu làm viên, uống mỗi lần 4g với rượu hoặc nước cơm, ngày 2 lần.
Đại hoàng: Dùng rễ cây đại hoàng. Đại hoàng vị đắng, tính lạnh quy vào 5 kinh: tỳ, vị, can, tâm bào, đại trường. Có tác dụng thông rửa tràng vị, phá tích, hành ứ. Dùng chữa táo bón do nhiệt kết. Liều thường dùng 6-12g. Có thể dùng đại hoàng 9g, đào nhân 9g, hạt bí đao 9g, mang tiêu 9g, đan bì 12g, sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần chữa bệnh viêm ruột, đau bụng, táo bón.
Thảo quyết minh: Là hạt của cây muồng. Dùng hạt già đã chế biến khô, chứa chất antraglucosid, ngoài ra có protid, chất nhớt, chất béo và sắc tố. Quyết minh tử vị mặn, tính bình, vào hai kinh can, thận, có tác dụng thanh can, ích thận, thanh can hỏa, trừ phong nhiệt, làm sáng mắt, hoạt tràng, thông tiện. Liều dùng 6-10g, dùng sống hay sao, có thể tán bột hay sắc uống để trị táo bón.
Mạch môn: Vị thuốc là rễ (củ) cây mạch môn đông, thành phần chứa chất nhày, saponin, chất đắng. Vị ngọt hơi đắng, tính hơi lạnh, vào 3 kinh tâm, phế, vị. Tác dụng nhuận mát phổi, thanh tâm, tả nhiệt, sinh tân dịch, lợi sữa, nhuận tràng, tiêu đàm, chữa ho. Để chữa táo bón dùng mạch môn 15g, sinh địa 15g, huyền sâm 9g, sắc uống.
Mật ong: Vị ngọt, tính bình, quy vào 5 kinh: tâm, phế, tỳ, vị, đại trường. Tác dụng nhuận, trơn, hoạt tràng, bổ trung, giảm đau, giải độc. Dùng chữa đại tràng táo kết, chỉ thống, thích hợp với người bị chứng tân dịch ở vị tràng thiếu, hư nhược, không phải chứng thực, phù hợp với người già, trẻ em, phụ nữ sau đẻ bị táo bón. Liều dùng 20-40g mỗi ngày.
Phan tả diệp: Dùng dưới dạng lá, vị cay, đắng, tính rất lạnh, quy kinh đại tràng. Thường được dùng phối hợp phan tả diệp 8g, hậu phác 12g, sắc uống chữa chứng đại tràng bí kết gây táo bón. Tuy nhiên không nên dùng cho những người thể hư nhược, phụ nữ mang thai.
DSCKI. Phạm Hinh
Vừng đen: Tên thuốc gọi là hắc chi ma, là một thực phẩm khá quen thuộc, chứa nhiều chất dầu, protein, các chất cholin, phytin, methionin... Hạt vừng vị ngọt, tính bình vào 4 kinh phế, vị, can, thận. Dùng chữa các chứng can thận suy yếu, ù tai, váng đầu, hoa mắt, chóng mặt, đại tiện bí táo, râu tóc bạc sớm. Trường hợp táo bón, dùng vừng đen 40-50g sao qua trộn với 30g mật ong ăn vài lần trong ngày. Có thể dùng vài ngày.
Thầu dầu: Dùng dầu của hạt cây thầu dầu, tên thuốc là tỳ ma du. Thuốc có vị ngọt cay, tính bình, quy vào hai kinh vị và đại tràng. Tác dụng nhuận hạ, tích trệ, tiêu sưng. Dùng dầu thầu dầu làm trơn nhuận, phù hợp với người già bị bệnh táo bón. Dùng ngày 2 lần, mỗi lần 5ml.
Quả mướp: Quả tươi chứa các chất cholin, phytin, các acid amin tự do. Tác dụng làm lưu thông máu, thông sữa, làm dịu, chữa táo bón, đau nhức gân xương. Dùng mướp nấu ăn hoặc sắc cô đặc lấy nước uống có tác dụng làm hoạt tràng, thông tiện.
Bồ kết: Dùng quả già, chín đem phơi hoặc sấy khô. Thuốc có vị cay, mặn, tính ấm hơi độc, quy vào hai kinh phế, đại trường. Bồ kết chứa chất saponin, một số flavonoid và hợp chất triterpen. Có tác dụng trừ đờm, khai khiếu, chữa táo bón, làm thông sữa. Dùng bồ kết quả to, sao tồn tính, tán thành bột mịn, uống ngày 1 lần 2g với nước cơm để chữa táo bón.
Đào nhân: Vị thuốc là nhân của hạt đào trong có chứa phần lớn các chất dầu, ngoài ra có amygdalin, men elmusin, một ít tinh dầu. Đào nhân vị đắng, ngọt, tính bình, quy vào hai kinh tâm, can. Có tác dụng hoạt huyết, trừ ứ, nhuận tràng. Liều dùng 4-8g sắc uống. Có thể dùng hoa đào 5-8g có cùng tác dụng.
Lô hội: là nhựa đã chế biến khô của cây lô hội còn gọi là cây lưỡi hổ. Thuốc có vị đắng, tính hàn, quy vào hai kinh tâm, can. Có tác dụng thanh nhiệt, giáng hỏa, thanh can, hoạt tràng, thông tiện. Dùng chữa các chứng táo bón, ruột dạ dày, can đởm thực nhiệt. Có thể dùng 6g lô hội nghiền nát, trộn với đường rồi ngậm và nuốt dần hoặc dùng lô hội 20g, chu sa 15g, tán nhỏ hòa với rượu làm viên, uống mỗi lần 4g với rượu hoặc nước cơm, ngày 2 lần.
Đại hoàng: Dùng rễ cây đại hoàng. Đại hoàng vị đắng, tính lạnh quy vào 5 kinh: tỳ, vị, can, tâm bào, đại trường. Có tác dụng thông rửa tràng vị, phá tích, hành ứ. Dùng chữa táo bón do nhiệt kết. Liều thường dùng 6-12g. Có thể dùng đại hoàng 9g, đào nhân 9g, hạt bí đao 9g, mang tiêu 9g, đan bì 12g, sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần chữa bệnh viêm ruột, đau bụng, táo bón.
Thảo quyết minh: Là hạt của cây muồng. Dùng hạt già đã chế biến khô, chứa chất antraglucosid, ngoài ra có protid, chất nhớt, chất béo và sắc tố. Quyết minh tử vị mặn, tính bình, vào hai kinh can, thận, có tác dụng thanh can, ích thận, thanh can hỏa, trừ phong nhiệt, làm sáng mắt, hoạt tràng, thông tiện. Liều dùng 6-10g, dùng sống hay sao, có thể tán bột hay sắc uống để trị táo bón.
Mạch môn: Vị thuốc là rễ (củ) cây mạch môn đông, thành phần chứa chất nhày, saponin, chất đắng. Vị ngọt hơi đắng, tính hơi lạnh, vào 3 kinh tâm, phế, vị. Tác dụng nhuận mát phổi, thanh tâm, tả nhiệt, sinh tân dịch, lợi sữa, nhuận tràng, tiêu đàm, chữa ho. Để chữa táo bón dùng mạch môn 15g, sinh địa 15g, huyền sâm 9g, sắc uống.
Mật ong: Vị ngọt, tính bình, quy vào 5 kinh: tâm, phế, tỳ, vị, đại trường. Tác dụng nhuận, trơn, hoạt tràng, bổ trung, giảm đau, giải độc. Dùng chữa đại tràng táo kết, chỉ thống, thích hợp với người bị chứng tân dịch ở vị tràng thiếu, hư nhược, không phải chứng thực, phù hợp với người già, trẻ em, phụ nữ sau đẻ bị táo bón. Liều dùng 20-40g mỗi ngày.
Phan tả diệp: Dùng dưới dạng lá, vị cay, đắng, tính rất lạnh, quy kinh đại tràng. Thường được dùng phối hợp phan tả diệp 8g, hậu phác 12g, sắc uống chữa chứng đại tràng bí kết gây táo bón. Tuy nhiên không nên dùng cho những người thể hư nhược, phụ nữ mang thai.
DSCKI. Phạm Hinh
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





